Quả trám chua

Cảm nóng phiền khát: 1 quả dứa giã nát lấy nước, hoà nước sôi để nguội uống.
Viêm thận: Dứa quả 60 gam, rễ cỏ tranh tươi 30 gam, sắc uống thay nước chè.
Rối loạn tiêu hoá: Dứa 1 quả, quýt 2 quả, ép lấy nước uống.
Viêm phế quản: Dứa quả 120 gam, mật ong 30 gam, lá tỳ bà 30 gam, sắc uống.
Quả trám chua
Trám chua có cùi cứng, mới ăn vào có vị chua chát, nhai lâu mới thấy thơm miệng, ăn rồi còn dư vị.
Cùi và nhân hạt trám đều có thể dùng làm thuốc. Cùi có những chất dinh dưỡng như protein, lipid, đường, vitamin C, canxi, phốt pho, sắt… Nhân hạt chứa nhiều lipid, có thể ép thành dầu. Trám vị chua, ngọt, tính ấm, có công hiệu thanh nhiệt, giải độc, lợi hầu, tan đờm, sinh tân dịch, chữa khô khát, khai vị, giáng khí, trừ phiền, tỉnh rượu. Trong cuốn Bản thảo cương mục có ghi: Trám là thứ quả sinh tân dịch, giảm phiền khát, trị đau đầu, đau họng; nhai nuốt lấy nước có thể giảm ngộ độc, dị ứng do ăn cua cá.
Nhiều bài thuốc chữa bệnh bằng trám:
Viêm họng: Cùi trám xanh 60 gam, ninh kỹ thành nước sánh đặc, thêm 30 gam phèn chua, nấu thành dạng cao. Ngày dùng 9 gam, chia 3 lần.
Bệnh hoại huyết: Trám tươi 30 quả sắc uống ngày 1 thang, dùng liền trong vài tuần.
Nẻ da do lạnh: Hạt trám đốt thành tro, trộn với mỡ lợn bôi.
Kiết lỵ ra máu: Trám và ô mai lượng bằng nhau đốt thành tro, mỗi ngày 9 gam, uống bằng nước cơm.
Nứt môi, lở mép: Trám xanh sao, tán bột, trộn mỡ lợn để bôi.
Hóc xương cá: Hạt trám non nghiền nát, ngậm nuốt dần.
Ngộ độc do ăn cá: Trám xanh 30 gam sắc uống.
Trẻ em bị sởi: Cùi trám xanh 30 gam sắc uống.
Anh đào
Anh đào quả trong và đỏ như viên ngọc, trong sáng long lanh, vị ngọt. Cây anh đào thuộc họ tường vi, nở vào tháng 3, 4, sang tháng 5 quả chín. Quả anh đào vị ngọt, tính ấm, được các nhà y học từ xưa quý trọng. Cuốn Điền Nam bản thảo viết “Anh đào chữa mọi chứng bệnh hư, có tác dụng bổ nguyên khí, da tóc, ngâm rượu uống chữa bệnh liệt nửa người, lưng, đau chân, tứ chi khó cử động do phong thấp”
Sau 6 tháng, các mạch máu vốn bị tổn thương ở số lợn này đã trở lại bình thường giống như những con khoẻ mạnh. Trong khi đó, những con không được ăn nam việt quất có mạch máu giãn nở rất kém.
Hạt anh đào tính ấm, có công hiệu giải độc, sởi, ra mồ hôi, tiêu đờm, tan nhọt.
Lá anh đào vị ngọt tính ấm, có tác dụng ôn vị, tỳ, cầm máu, giải độc. Lá anh đào giã nát chữa bệnh ghẻ lở. Rễ cây anh đào tính bình, vị ngọt, có tác dụng hoà khí huyết, chữa được bệnh đau bụng kinh, tác do khí huyết không điều hoà ở phụ nữ. Nó còn có tác dụng tẩy giun đũa, sát trùng.