Lão hóa và bệnh tật

Vấn đề tăng khả năng lao động, phục hồi sức lao động trong thời đại chúng ta có ý nghĩa xã hội và sinh học vô cùng quan trọng. Nó có tính chất xã hội vì việc tham gia hoạt động xã hội của những người về hưu là hết sức cần thiết. Hiện nay chỉ mới một số lượng nhỏ người về hưu tham gia công tác xã hội; tùy theo khả năng và lứa tuổi mà xã hội nên tạo điều kiện cho họ tiếp tục đóng góp. Về ý nghĩa sinh học thì mỗi công việc, sự lao động đều kích thích sinh lý tự nhiên đối với cơ chế thích nghi của cơ thể đang già hóa. Đối với người có tuổi, người già lao động trí óc và chân tay vừa phải, thích hợp sẽ giúp họ khỏe mạnh, giảm bệnh tật, hòa nhập với cộng đồng, xã hội.
Một trong số các thành tựu đáng ghi nhớ nhất của y học thế giới là đã đẩy lùi được các bệnh truyền nhiễm. Các biện pháp vệ sinh quy mô lớn, các vacxin, huyết thanh, kháng sinh đã thực hiện công việc của mình – diệt trừ dịch bệnh, đẩy nó vào quá khứ. Bệnh truyền nhiễm là nguyên nhân cơ bản gây ra tử vong cao đã bị đẩy lùi khỏi vị trí hàng đầu. Vì vậy tuổi thọ tăng lên đột ngột. Cũng chính vì vậy đối với các nước phát triển bệnh thuộc hệ tim mạch đã bước lên vị trí hàng đầu. Người ta nói rằng vữa xơ động mạch, thiếu máu cục bộ của tim, bệnh cao huyết áp là các “cái giá của tiến bộ” v.v… Tại sao lại có quan niệm như vậy? Trước hết, yếu tố cơ bản gây ra bệnh này là chế độ dinh dưỡng cao (chủ yếu là sử dụng mỡ quá nhiều), thiểu năng huyết động, các thói quen có hại, căng thẳng về tình cảm – tâm lý. Hiện nay người ta gọi chúng là các yếu tố nguy hại.
Việc tách các yếu tố nguy hại, xác định tầm quan trọng của chúng đối với sự xuất hiện và phát triển bệnh lý tim mạch cho phép xác định các bước thực hành cụ thể trong việc phòng các bệnh trên và biến chứng của chúng. Vấn đề không chỉ đơn giản: muốn tăng huyết động nhằm giảm khả năng xuất hiện nhồi máu cơ tim phải tăng cường vận động; thêm nữa chúng ta có thể loại bỏ các thói quen có hại và việc sử dụng dư thừa mỡ. Vấn đề khó khăn hơn là đối với cás stress tình cảm – tâm lý. Trong thực tế sử dụng các biện pháp dự phòng đã có nhiều kết quả hứa hẹn. Ví dụ – ở Mỹ nhờ chế độ dinh dưỡng dự phòng và chế độ vận động mà mức độ tử vong do bệnh nhồi máu cơ tim trong thời gian từ 1968 đến 1978 giảm đi 26,4, các bệnh mạch não -40,1%.