Gia vị tiêu dao tán

Chữa chứng Can ban, mụn trứng cá và rụng tóc.
Trong phương này, Bạch cập, Chữ đào nhi, Đông qua nhân (hạt bí đao), có công năng tư nhuận, bổ ích da dẻ; Đá Thạch nhũ, Bạch liễm, Bạch cương tàm, Bạch phụ tử khử phong trục đờm, loại trừ vết nám, chấm tàn nhang, mụn nhọt, vết sẹo trên mặt; Xạ hương, Thiều não đều thuộc loại dược vật thơm tho khai khiếu. Thiều não tức Chương não vị đắng, thơm, ngoài dùng có thể trừ thấp sát trùng, “Bản Thảo Cương Mục” nói còn có thể chữa được “nhọt ghẻ, nấm” và bệnh trên đầu khuẩn trẻ em”. Xạ hương có thể “trừ vết nám, chấm tàn nhang trên mặt” (Theo”Danh Y Biệt Lục”), còn hành huyết, khai kinh lạc. Tất cả vị thuốc trên dùng chung có tác dụng làm đẹp rất tốt và khu phong, làm thơm da mặt, loại trừ vết nám, tàn nhang. Lại thêm vào Ngọc tương hòa với thuốc thì công hiệu làm đẹp tăng gấp đôi. Thành phần Ngọc tương chủ yếu là Ngọc bích, có thể “Bổ khí, lợi huyết mạch”. Ngoài ra còn tác dụng loại trừ vết nám.
Gia vị tiêu dao tán
(“Trung Y trị pháp và phương tể “)
Hiệu quả: Chữa chứng Can ban, mụn trứng cá và rụng tóc.
Thành phần dược liệu:
Sài hồ 9g, Bạch dược 30g, Phục linh 15g, Quất tử 12g, Trắc bá diệp 15g, Dương qui 9g, Bạch truật 9g, Đơn bì 9g, Địa du thán 30g, Sử căn bì 30g.
Cách thực hiện:
Cho tất cả dược vật trên vào nồi với lượng nước vừa đủ sắc nấu, lấy nước thuốc. Chia làm 3 lấn để uống.
Giải thích:
Phương thuốc này thích hợp cho những người mặt có Can ban, kèm có chứng huyết trắng nhiều, màu hồng nhạt hoặc đen thường hay chóng mặt, mất ngủ, lòng buồn phiền dễ cáu giận, ngực sườn và hai bên hông bụng dưới sình đau, ăn kém, tinh thần mệt mỏi; cạnh lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng. Phương thuốc này tác dụng sơ can, thanh nhiệt, trừ thấp, thu liễm cầm máu. Sài hồ trong phương sơ can giải uất;. Đương qui, Bạch thược dưỡng huyết điều can. Bạch truật, Phục linh, Cam thảo kiện tỳ, ích khí, trừ thấp. Những loại thuốc kê trên đều có thể làm cho can khí điều sướng, tỳ khí kiện vận. Dùng Đơn bì để thanh nhiệt lương huyết, hoạt huyết tàn ứ chữa bệnh huyết trắng. Thật vậy, như cuốn “Bản Thảo Cương Mục” nói “Đơn bì hòa huyết, sinh huyết, lương huyết, trừ hỏa trong huyết, và trừ phiền nhiệt”. Thêm Quất tử thanh nhiệt trừ thấp, tả hỏa trừ phiền. Địa du thán, Trắc bá diệp mát máu, cầm máu. Sử căn bì tức là rễ và vỏ cây Thanh thất, gồm tác dụng thanh nhiệt táo thấp, thu liễm cầm máu, giảm huyết trắng, “chủ trị rong kinh, sản hậu máu ra không ngừng, huyết trắng của phụ nữ” (Theo “Đại Minh Bản Thảo”).