Bạc hà – Dâu tằm

Tóc bạn bị gầu ư? Hãy ngâm dấm lá hương thảo và lá bạc hà và sau khi gội đầu thì xối dấm này lên tóc, không rửa lại bằng nước. Da bạn khô hả? Tắm bạc hà sẽ làm dịu da và ẩm da nhờ chất tinh dầu quý giá của nó. Lỗ chân lông lớn quá? Đổ nước sôi vào lá bạc hà rồi xông lên mặt. Bắp thịt đau nhức? Pha 5 – 10 giọt bạc hà vào 250 ml tinh dầu hạnh nhân và xoa lên chỗ bị đau nhức (nó còn để trị nhức đầu và sốt nóng nữa).
Và sau cùng điều làm phụ nữ thích nhất là làm mặt nạ bằng bạc hà theo kiểu Ấn Độ, dùng lá bạc hà và hoa nhài. Ngâm hoa và lá tươi trong một bát nước sạch để qua đêm, sáng ra dùng cối chày giã nát, bôi đắp lên mặt, để yên 30 phút, rửa đi. Bảo đảm da sáng bóng, tẩy độc mà còn thơm hương.
Dâu tằm
Dâu tằm là trái cây của nữ thần Minerva, vị thần của sự khôn ngoan, của nghệ thuật và của buôn bán. Cây dâu tằm là nơi những con tằm dệt tơ kén, và trong khi người Trung Hoa cổ cố giữ bí mật về nguồn gốc của tơ lụa thì dược tính của cây lại được cả thế giới công nhận từ lâu rồi.
Dâu tằm có tên khoa học là Morus alba, và dâu tằm đen tên khoa học là Morus nigra. Loại trước mọc tự nhiên ở Trung Hoa, Đông Nam Á, Philipin và Nhật Bản; loại sau bắt nguồn từ Trung Cận Đông được đem sang châu u được người Hy Lạp cổ và La Mã cổ thích say mê. Dược tính của cả hai loại dâu tằm nằm trong lớp vỏ rễ, lá, cành, nhánh con và trái. Quả dâu tằm không có hạt cứng, chín vào mùa hè.
Châu u thế kỷ XVI dùng quả dâu tằm đen để trị bỏng và chảy máu, vỏ rễ để trị đau răng, và lá để trị rắn cắn. Ở Trung Hoa, vỏ rễ dâu tằm trắng dùng để trị ho, viêm cuống phổi, hen suyễn, trái dâu tằm là thuốc bổ âm, chống cao huyết áp và mất ngủ, lá dâu tằm giảm sốt và làm dịu gan.
Trái dâu tằm trắng khác trái dâu tằm đen ở vẻ ngoài và hương vị nhưng có cùng công dụng chữa trị như nhau; các phần khác của hai loại cây có công dụng chữa trị khác nhau. Trái dâu tằm đen không có cuống, hơi tròn, đỏ sậm, vị chua ngọt, trái dâu tằm trắng vàng nhạt hoặc hồng nhạt, nhỏ hơn, dài hơn, và rất ngọt.